Charlie Bone và sói hoang (Tập 6)

Săn Sói Hoang
Ngược xuôi đường Filbert, những cửa rà vào và cửa sổ lần lượt mở ra, cái thì bạo dạn, cái thì rụt rè. Tiếng người lao xao chõ vào màn đêm.
“Chuyện gì đó, hả?”
“Ai vậy?”
“Ông Yewbeam nhà số 9.”
“Ông Yewbeam, ông có sao không?”
Ai đó hỏi, “Có phải nó là sói?”
Trước khi Ông cậu Paton trả lời gì, Agnes Prout, hàng xóm sát vách của gia đình Yewbeam, hét tướng. “Chắc chắn là chó sói. Nó đã vô thành phố.”
Nghe vậy lập tức năm, sáu cánh cửa vội đóng ập lại.
Nắm chặt cổ tay, Ông cậu Paton lảo đảo đi ngược về nhà. Khi Charlie chạy tới đón ông, Benjamin và mẹ nó băng ào qua đường, có Hạt Đậu vô cùng sốt sắng dẫn đầu.
“Bồ có sao không, Charlie?” Benjamin hét.
“Mình không sao, nhưng ông cậu mình chắc là có.”
Cô Brown kinh hãi nhìn sựng dòng máu chảy dọc xuống những ngón tay của Ông cậu Paton. “Ông Paton, chuyện gì thế ạ? Tôi có thể giúp gì?
“Không có chi,” Ông cậu Paton cộc cằn. “Bà Maisie sẽ băng bó cho tôi.”
“Nhưng người ông đầy thủy tinh.” Cô Brown luống cuống nhổ những mảnh vụn trên vai Ông cậu Paton.
“Làm ơn tránh ra, Patricia,” Ông cậu Paton khẩn thiết. “Cô làm đứt tay mình bây giờ,” ông bắt đầu leo lên bậc cấp nhà số 9, với Charlie đỡ cùi trỏ ông.
Mẹ của Benjamin chưa chịu về nhà. Cô kiên quyết đứng trên vỉa hè, nhất định phải moi đến cùng sự huyền bí ở ngay mé cửa nhà mình. “Nó là sói phải không?” Cô nghiêm trang. “Mọi người đang bàn tán. Họ gọi nó là Sói Hoang. Ta có thể nghe tiếng nó tru hàng đêm. Chắc hẳn nó sống trong vùng đồng hoang bên kia sông.”
“Patricia,” Ông cậu Paton khẳng định. “Không phải tôi bị sói tấn công.”
“Thế thì là cái gì…”
“Đó là con người!” Rồi không ngoài nhìn lại, Ông cậu Paton sải bước vô nhà.
Charlie thấy mình nên có lời. “Xin lỗi,” nó quay qua Benjamin và cô Brown. “Ông cậu của cháu bị thương. Chúc ngủ ngon, Benjamin, chúc ngủ ngon, cô Brown.”
“Chúc ngủ ngon, Charlie,” Benjamin lo lắng. Vẻ mặt mẹ nó quả quyết: Tôi-sẽ-tìm-bằng-được-sự-thật-của-việc-này.
Cô Brown đĩnh đạc bước về nhà số 12, Benjamin và con chó theo sát nút. “Mẹ sẽ tìm hiểu tận cùng việc này,” cô nói.
“Gì gì thế này?” Ngoại Maisie hét lên khi Ông cậu Paton loạng choạng vô nhà bếp.
“Ông cậu Paton bị cắn.” Charlie giúp ông cậu ngồi xuống ghế.
Ông cậu Paton xắn tay áo lên. “Bà vui lòng lấy cho tôi một chậu nước sạch và một ít thuốc sát trùng.”
“Ông có bao giờ bị chó cắn đâu!” Ngoại Maisie hớt hơ hớt hải ra bồn và hứng nước vô chậu. “Khéo ông nhiễm bệnh dại đấy, Paton.”
“Không phải chó cắn,” Ông cậu Paton nói yếu ớt. “Chắc chắn không phải là chó.”
“Ơn trời,” ngoại Maisie bưng chậu nước tới bên Ông cậu Paton. Cầm cổ tay ông, bà bắt đầu chậm bằng khăn sạch.
Charlie chợn người khi nhìn những vết răng. Ngoại Maisie chậm liên tục bắt đầu có tác dụng. Khi máu sạch hết, vết thương ở cổ tay lộ rõ ra.
“Tôi thấy giống như sói cắn,” ngoại Maisie nhận xét khi quan sát cổ tay Ông cậu Paton. “Những vết này, hình như là răng năng – răng cửa không sâu thế này, chắc chắn là hai cái răng năng, ở một trong hai bên.”

“Tôi không thể giải thích được.” Ông cậu Paton để cho ngoại Maisie băng cổ tay mình bằng một miếng vải voan trắng. “Sinh vật đó nói tiếng người với tôi. Chưa hết, nó còn biết tên tôi.”
“Trời, ai mà tin được!” Ngoại Maisie đứng lên và đem cái chậu trở ra bồn.
Suốt quãng thời gian đó, Billy ngồi im thin thít, ôm chặt Rembrandt vô ngực. Trông nó vừa sợ hãi vừa hoang mang.
“Em sao vậy, Billy?” Charlie hỏi. “Em biết những sinh vật đó à?”
“Không hẳn,” Billy nhíu mày sâu hoắm. “Em chỉ đang suy nghĩ thôi.”
“Suy nghĩ gì?” Charlie ngồi xuống sát bên nó.
“Ừm, thật ra em đang thắc mắc.”
“Thắc mắc gì?”
“Giọng nói – khi nó tru thì nghe như chúng ta hay nghe thấy ban đêm. Thật khó giải thích, nhưng nó sử dụng cùng một ngôn ngữ.”
“Nhưng tiếng chúng ta nghe thấy ban đêm là sói, Billy cưng à,” ngoại Maisie bảo. “Người ta gọi nó là Sói Hoang.”
“Kẻ tấn công tôi hầu như là con người,” Ông cậu Paton thêm.
Billy lễ phép làm mặt bướng bỉnh. “Chúng là một,” nó khăng khăng.
Ông cậu Paton rùng mình thấy rõ. “Trường hợp đó, ta đành kết luận là chúng có họ hàng. Thật tình, ta mệt rũ đến không còn sức mà giải đáp những câu đố này nữa. Ta đi ngủ đây. Tụi nhỏ cũng đi ngủ đi, nhanh lên. Ngày mai còn đi học.” Ông đứng dậy, hơi nhăn mặt khi ông nắm bàn tay trái vô lưng ghế mình đang ngồi.
Ngoại Maisie lắng nghe tiếng Ông cậu Paton lê chân lên cầu thang. Bà lắc đầu. “Ông cậu của con không ổn đâu, Charlie, nếu con hiểu ý ta. Ta cầu cho vết cắn không có nọc độc.”
Charlie không có cơ hội chờ xem vết cắn của Ông cậu Paton có khỏi không. Sáng thứ Hai nào cũng quýnh quáng cả lên. Quần áo nhét vội vô giỏ xách, bữa sáng cập rập, sau đó Charlie và Billy ra khỏi nhà, chạy hộc tốc đến cuối đường Filbert để đón xe buýt của học viện.
Ngoại Maisie vẫy tay tiễn chúng, hét với theo. “Ta sẽ báo cho các con nếu ông cậu trở nặng. Cẩn thận đấy, các con.”
Lũ trẻ trong học viện không được phép dùng điện thoại, radio hay tivi. Vài đứa nhớ nhà đã lén mang điện thoại di động vô, nhưng trong học viện luôn có gián điệp sẵn sàng tố giác bạn bè để lấy lòng gia đình Bloor. Điện thoại di động luôn luôn bị phát hiện và bị tịch thu, còn chủ nhân thì bị cấm túc.
Bà bếp trưởng là mối dây liên lạc duy nhất của Charlie với thế giới bên ngoài, nhưng nó e ngại không biết nỗi sợ Lord Grimwald có ngăn bà tiết lộ tức cho nó hay không.
Suốt cả ngày không thấy bà bếp trưởng xuất hiện trong căng-tin. Tới bữa trà, Charlie nhoài người qua quầy, khẽ hỏi một cô phụ việc nhà bếp thân thiện tên là Valerie, xem có phải bà bếp trưởng bị bệnh không.
“Cô thấy bà ấy khỏe mà. Chắc bà ấy bận tối mũi nên không ra quầy được.”
Charlie lo lắng. “Cô cho cháu gởi… gởi lời hỏi thăm bà ấy được không?”
“Được chứ cưng.” Cô Valerie nhoẻn miệng cười.
Bất chợt có tiếng eo éo. “Vậy ra bà bếp trưởng là bạn của anh à?”
Charlie quay lại. Dagbert đã lẻn đến đằng sau nó từ bao giờ, nhẹ đến nỗi Charlie không biết.
“Kh… không,” Charlie ú ớ. “Chỉ là đồ ăn ngon hơn khi có bà bếp trưởng.”
Đôi mắt xanh lục của Dagbert lóe lên. “Tôi nào co buộc tôi anh gì đâu, Charlie.”
Charlie tất tưởi ra khỏi quầy. Nó không còn muốn ăn nữa. Billy theo nó ra khỏi căng-tin.
“Có tin gì về ông cậu của anh không?” Billy hỏi.
“Làm gì có,” Charlie dấm dẳng. “Anh chưa gặp bà bếp trưởng.”
Billy lót tót đi khỏi, trông tủi thân ghê gớm.

Khi bà bếp trưởng không xuất hiện trong bữa ăn sáng thứ Ba, ruột gan Charlie như lửa đốt.
Fidelio chạy tới Charlie khi nó thơ thẩn trong sân chơi giờ nghỉ giải lao đầu tiên. “Trông em như có mây đen phủ xuống vai vậy.” Fidelio đấm nó một cái thân tình.
“Đâu có!” Charlie đẩy tay bạn đi.
“Sao gắt gỏng ghê thế!”
Charlie thấy hối hận. “Em đang lo cho ông cậu của em. Ông bị một… một vật cắn, với lại em cũng lo sốt vó vì chưa thấy bà bếp trưởng đâu, mà Dagbert thì…?
“Charlie, khoan nào!” Fidelio chặn lại. “Bình tĩnh coi, từ từ kể anh nghe chuyện gì xảy ra.”
Fidelio là người lắng nghe cực giỏi. Charlie nhận thấy đáng lẽ ra mình phải giải bày với anh từ trước rồi mới đúng. Nó tả lại kỳ nghỉ cuối tuần của nó, bắt đầu bằng chuyến đi tới nhà bà Kettle và kết thúc khi ông cậu bị tấn công. “Người ta nhất mực bảo thứ mà tụi em nghe thấy tru ban đêm đó là Sói Hoang, nhưng Ông cậu Paton khăng khăng đó là người. Còn, cái này mới quái dị, Billy bảo giọng của chúng giống nhau.”
“Hừm…” Fidelio dừng lại giữa đường. “Giống nhau?”
Charlie bỗng dưng xao lãng vì một cảnh tượng rất thú vị. Tancred đang sóng bước cùng một cô gái cực kỳ xinh đẹp, tóc vàng óng thả dập dềnh xuống áo chùng tím tới gần chấm eo. Làn da láng mịn, mội mọng đỏ, đôi mắt xám với hàng mi dài, cong vút. “Hê, đó là bạn… “
“Bạn gái của Tancred,” Fidelio nói nốt. “Tracy Morsell, có biệt danh Kẹo Ngọt đối với dân năm ba.”
“Thật không? Anh biết nhiều ghê.”
“Chứ sao,” Fidelio thừa nhận. “Anh dỏng tai nghe ngóng trong sân chơi. Và đằng kia là Emma Tolly tội nghiệp, ôm trái tim tan vỡ.”
Theo ánh mắt của Fidelio, Charlie thấy Emma ngồi cô độc trên một khúc gỗ ở góc sân xa xa. Một chồng sách đặt trên đùi Emma và, dù ở khoảng cách xa thế này cũng có thể thấy rõ con nhỏ đang buồn rười rượi.
“Nó…?” Charlie quay qua Fidelio.
“Nó đặc biệt mến Tancred? Thật. Xưa nay em không để ý à?”
“Em khờ thật,” Charlie vỗ trán. “Đúng rồi, giờ anh lại nói ra. Tội nghiệp Em.”
Tiếng tù và đi săn rúc lên khắp sân, gọi bọn trẻ trở vô lớp học, và Charlie chạy tới giúp Emma nhặt đống sách rơi khỏi đùi, văng tứ tung dưới chân con nhỏ - những trang sách bay bay như những đôi cánh trắng trong gió buốt.
Emma cười cảm kích khi nhận sách từ tay Charlie. “Mình khùng quá mới định học bài ngoài này,” nó nhỏ nhẹ. “Mình có một ý nghĩ điên rồ là nếu mình làm hết bài tập về nhà thì tối nay mình sẽ không phải tới phòng Nhà Vua nữa.”
Charlie lắc đầu. “Đâu được, Em. Họ sẽ giao bài khác cho bồ làm.”
“Mình biết.”
Fidelio chờ chúng để cùng đi vô trường. Ba đứa chúng nó làm tốp cuối cùng rời sân chơi.
Đêm đó Charlie chờ lắng nghe tiếng tru đằng xa. Đêm nay tiếng ọ ẹ và hơi thở nặng nề của bọn con trai đang ngủ quanh nó dường như lớn hơn. Sau đó nó thấy Billy cũng thức giấc. Charlie có thể nhìn thấy cái đầu trắng lòa nhòa của Billy khi nó ngồi dậy ở phía bên kia giường Dagbert.
“Billy?” Charlie thì thầm. “Em có nghe thấy gì không?”
“Em có nghe tiếng tru một lần,” Billy nói khẽ, “nhưng rất nhỏ.”
“Nó nói gì?”
“Em không chắc…” Billy đắng đo. “Hình như là ‘cha’.”
Bỗng rồi chúng nghe thấy tiếng súng nổ từ xa, không thể lầm lẫn được.
Rên nhẹ một tiếng, Billy chui tọt xuống tấm trải giường của nó.

Charlie nằm xuống trở lại gối, thầm nghĩ, Mình hy vọng họ không giết chết nó.
Tại nhà số 12 đường Filbert, Benjamin Brown vẫn còn thức tỉnh rụi. Nó ước gì có Charlie ở nhà để cùng chia sẻ hai ngày qua với mình. Quá nhiều sự việc đã xảy ra. Đầu đuôi là từ cuộc họp được triệu hồi gấp rút trong hội đồng thành phố. Cô chú Brown quyết định cho Benjamin đi dự cùng. “Sẽ tốt cho con,” cô Brown nói. “Con có thể học hỏi được đôi điều.”
Benjamin bán tín bán nghi, tới hồi nó hiểu ra đề tài bàn thảo là về Sói Hoang. Và đúng là nó học được nhiều điều. Trong đó có một điều là người ta thường nói dối khi sợ hãi.
Nỗi sợ bao trùm tòa nhà nguy nga tối hôm đó. Nỗi sợ hiện lên trong mắt mọi người; nỗi sợ được nghe thấy trong những lời nói rón rén và phập phồng. Benjamin ngồi giữa cha mẹ, ngay hàng ghế đầu. Gia đình Brown muốn quan sát từng chi tiết nhỏ nhất của những sự kiện kiểu như thế này.
Có năm người ở trên bục. Họ ngồi đằng sau một cái bàn dài, mỗi người có một tập bìa hồ sơ và một ly nước trước mặt. Benjamin nhận ra vị chủ tọa, ông Marchwell, ủy viên hội đồng lỗi lạc, người thường hay tới thăm trường nó; nó cũng nhận ra người hàng xóm sát vách của Charlie, Agnes Prout.
Ông Marchwell khai mạc phiên kiện cáo bằng một bài diễn văn ngắn. Ông nói với thính giả rằng tất cả họ ở đây là vì những lý do đồng nhất: trước hết, để thảo luận cách thức và phương tiện nhằm xác định “những âm thanh bất thường” (một kiểu mô tả rườm rà về tiếng tru, Benjamin nhận ra vậy) phát ra từ bên kia sông, và thứ hai, để quyết định xem sinh vật chủ thể của “những âm thanh bất thường” đó có đe dọa đến cư dân thành phố hay không.
Tới đây, Agnes Prout thô lỗ cắt lời ông Marchwell.
“Đe dọa hay không á? Dĩ nhiên nó đe dọa mười mươi còn gì. Nó là sói đích xác, quỷ tha ma bắt!”
Vài người vỗ tay tán thưởng cơn giận bột phát này. Benjamin hài lòng là ba mẹ nó vẫn để nguyên tay trên đùi.
“Chúng ta không biết chắc đó là sói, thưa bà Prout,” ông Marchwell nói.
“Chúng ta biết rõ rành rành,” Agnes độp lại. “Chính mắt tôi đã thấy nó. Nó đã cắn ông hàng xóm của tôi, ông Yewbeam. Tôi đã thấy vết thương. Một dòng máu phụt ra từ cổ tay ông ấy – một dòng máu hẳn hoi.”
Cô Brown giơ tay lên.
Ông Marchwell hơi chồm tới trước. “Cô có ý kiến, cô… è, cô…?”
“Brown,” mẹ của Benjamin đứng lên. “Trish Brown. Tôi muốn nêu bật rằng, ông Yewbeam bảo với tôi là ông ấy bị một con người cắn. Một… người cổ xưa, có lẽ vậy, nhưng chắc chắn không phải là sói.”
Benjamin tự hào về mẹ mình quá đi mất. Nó thậm chí còn tự hào hơn khi mẹ cương quyết giữ lập trường trước những lời phỉ báng, rủa xả từ Agnes Prout.
“Nhảm nhí. Cô Brown. Phi lý! Hoặc là ông Yewbeam không còn minh mẫn, hoặc là cô điếc. Đó không phải là người. Mà là sói.”
“Nếu ông Yewbeam ở đây…” cô Brown bắt đầu.
“Ông ta không có ở đây,” Agnes cướp lời, “Thế thôi.”
Cô Brown giận đỏ phừng mặt và ngồi xuống. Chú Brown vỗ vỗ lưng cô.
“Hay lắm, mẹ,” Benjamin thì thầm. Mẹ nó cười với nó một nụ cười nhẫn nhịn.
Benjamin ngước nhìn lên những bóng đèn sáng choang trên trần nhà. Chắc chắn ông cậu của Charlie không thể tới dự cuộc họp này được. Mọi người sẽ bị chụp vô bóng tối, với mưa thủy tinh bao phủ ngay khoảng khắc ông bước qua cửa.
Cử toạ bắt đầu phừng phừng khí thế. Khắp phòng những cánh tay đưa lên rào rào. Người người la ó không chờ đến lượt mình. Bất lực, ông Marchwell giơ tay lên nài nỉ họ hãy tỏ ra văn minh, cho phép mọi người nghe nhau nói.
“Tôi đã thấy nó ở đại lộ Cruckton!”
“Có người bảo tôi nó ở đường Piminy!”
“Nghe nói nó được trông thấy ở quảng trường Nhà Thờ Lớn!”
“Nó bắt mèo ăn!”
“Và cả chó nữa!”
“Sẽ đến con nít mới sinh cho coi!”
“Rồi trẻ con!”
“Phải giết nó!”
Phải hồi lâu tiếng huyên náo mới dịu bớt, nhưng ông Marchwell là người quyết đoán, và ông đã xoay xở kiểm soát được phần còn lại của buổi họp. Chỉ về cuối, sự cuồng loạn mới ngấm vô trong vài tiếng nói.
Một phán quyết được đưa ra. Ngài thị trưởng sẽ được báo cáo về sự bức xúc mãnh liệt của cư dân về “cái vật” trong đồng hoang, theo đó một cuộc đi săn sẽ được tổ chức. Bắt buộc truy phải truy kích, phải bắt, hoặc phải giết cái được gọi là Sói Hoang. Vì ban ngày sinh vật đó im tiếng, nên cuộc đi săn sẽ bắt đầu vào lúc sẩm tối, ngay ngày hôm sau.
Khi cuộc họp giải tán, những tốp nhỏ vẫn còn tụ tập trên vỉa hè bên ngoài tòa thị chính. Benjamin nghe thấy những giọng điệu quá khích. Bạo lực sôi sục trong không khí. Trong nó bỗng dưng nghĩ những con người điên cuồng này còn nguy hiểm hơn bất cứ loài Sói Hoang nào.
Cô chú Brown lẳng lặng bước về nhà. Benjamin nhìn lên vẻ bất bình trên mặt họ và quyết định không hỏi han gì hết. Đúng vừa lúc leo lên bậc cấp nhà số 12, họ nghe thấy tiếng tru sầu thảm xuyên qua bầu không khí lạnh căm.
Benjamin rùng mình. “Nó không có vẻ nguy hiểm, mà nghe như nó đang u sầu.”

“Buồn u uất,” cô Brown đồng ý. “Có gì đó không ổn trong việc này.”
Năm phút sau, ngồi trong gian bếp ấm và sáng sủa, chú Brown nêu lên những giả thiết. “Thế này nhé. Chúng ta nghe thấy tiếng kêu từ đồng hoang, đúng không? Một con thú kêu, có thể nói vậy, một tiếng kêu mang ý nghĩa gì đó. Kêu cứu. Giờ ông Yewbeam nói ‘cái vật’ tấn công ông là con người.”
“Ông Paton Yewbeam không ngốc,” cô Brown chen vào. “Ông nói nó là con người, và em hoàn toàn tin ông ấy.”
“Anh cũng tin, Trish,” người chồng vội nói. “Anh tin. Cái vật mà cắn này có mang đặc điểm thú, vì vậy, có thể có mối liên hệ giữa cái vật trong đồng hoang và kẻ tấn công ông Yewbeam.”
Benjamin chăm chú lắng nghe ba mẹ thảo luận. Được thửa hưởng óc tò mò, nghi ngờ, cũng như khả năng phân tích, diễn giải và linh cảm gấp đôi cha mẹ, bản thân nó hứa hẹn sẽ trở thành một thám tử tài ba.
“Con có một linh cảm,” Benjamin nói.
Cô chú Brown đánh giá rất cao câu nói này.
“Linh cảm, ôi, Benjamin!” Cô Brown tỏ ra rất hài lòng.
“Là gì vậy con? Nói đi!” Chú Brown háo hức nghiên cứu vẻ mặt con trai.
“Ừm…” Benjamin quyết định kéo dài sự chú ý mà nó đã lôi kéo được. “Ờm, có lần Charlie đã nói với con về một anh học sinh, tên là Asa Pike, chưa hề được trông thấy ở học viện trong học kì này. Anh ta được ban phép thuật, giống như Charlie, chỉ có điều anh ta biến thành thú vào ban đêm.”
Chú Brown gật đầu thiếu kiên nhẫn. “Asa? Phải, ba mẹ biết cậu ta.”
“Ờm…” Benjamin nhấn nhá một lúc. Nét mặt lưu tâm của ba mẹ nó có vẻ rất mãn nguyện. “Điều ba mẹ không biết là Asa, một người có thời từng kề cận Manfred Bloor, ờm, Asa đã giúp Charlie tìm ra ba của nó, và con đoán là Manfred vô cùng tức giận về điều ấy, vì vậy, rất có thể hắn đã nhốt Asa ở đâu đó để trừng phạt.”
Cô chú Brown nhìn con trai với vẻ thán phục và vui mừng khôn xiết.
“Benjamin, con nói chí phải,” chú Brown hồ hởi.
“Một khi đã nhận ra chính xác tiếng tru đó, vậy con có nghĩ ra cách nào để cứu con vật tru đó không?” Cô Brown hỏi con trai.
Ở điểm này thì Benjamin nói dối ngây thơ: “Không”, trong khi một ý tưởng đang hình thành trong đầu nó. Đằng sau nó, Hạt Đậu đang nằm ngủ sóng sượt trong ổ. Hạt Đậu có thể tìm thấy bất cứ cái gì, Benjamin suy tính. Nếu ngửi được thứ gì thuộc về Asa, thì con chó bự có thể tìm ra anh ta. Benjamin giữ ý kiến này cho riêng mình. Nó không muốn bố mẹ nó giúp. Nó muốn tìm thấy Asa một mình, hay có lẽ cùng với Charlie.
“Chúng ta phải nhanh chóng làm gì đó ngay,” chú Brown nói, “không thì đội săn sẽ giết thằng bé đáng thương đó trước khi họ nhận ra nó là ai. Để anh sẽ đi gặp ngài thị trưởng.”
“Ông ấy không tin anh đâu,” cô Brown rầu rĩ. “Ông ấy vốn không quan tâm đến những việc xảy ra ở học viện Bloor. Ông ấy biết về những đứa trẻ được ban phép thuật, dĩ nhiên, nhưng ông ấy không thích thừa nhận điều đó.”
“Để con sẽ suy tính thêm,” Benjamin nói.
Tìm được một thứ thuộc về Asa không dễ như Benjamin tưởng. Nó phát hiện ra rằng chưa từng ai thấy cha mẹ của Asa bao giờ. Không ai biết họ sống ở đâu. Hình như họ không có họ hàng thân thích. Bất cứ thứ gì Asa từng mặc hay từng sờ vào đều nằm sâu trong học viện Bloor, một nơi mà những người như Benjamin không thể nào vô được. Chắc chắn gia đình Bloor sẽ không sốt sắng tham gia cứu Asa. Anh ta đã đổi phe. Họ có thể coi anh ta là kẻ chiêu hồi, một kẻ phản bội.
Đến lúc Benjamin đi học về ngày hôm sau, đội săn đã sẵn sàng. Hóa ra cả nửa thành phố đi theo dõi. Bốn mười người đàn ông tráng kiện tập hợp trên cây cầu dẫn tới vùng đồng hoang. Chỉ huy là cảnh sát trưởng Constable và cảnh sát viên Wood, một tay súng cừ khôi. Dưới trướng của họ là một đội quân tạp nham, trông quyết chiến trong trang phục hổ lốn – áo khoác có mũ, áo liền quần, áo gió, áo mưa. Đầu họ đội nón len, mũ trùm đầu, mũ nồi và thậm chí cả nón cao bồi. Vài người đi ủng không thấm nước, hoặc giày thể thao nhưng phần lớn đi giày bốt da vững chãi. Một nửa quân số mang súng săn, còn lại cầm đèn nháy và dùi cui.
Tiếng hò reo vang dậy khi bốn mươi hai người đàn ông rầm rập qua cầu và quẹo phải, đi vô con đường mòn cặp dòng sông. Đi chừng vài mét, con đường mất hút vô những bụi cây thấp rậm rạp – cửa ngõ vùng đồng hoang.
Đứng trên một lối mòn bên hông dòng sông thành phố, cha của Benjamin theo dõi toàn bộ chiến dịch. Chú ấy trở về nhà trong tâm trạng trĩu nặng, lo âu.
“Không xong rồi,” chú nói với vợ và con trai khi cả nhà ăn trứng bác và rau bina. “Sẽ xảy ra thảm họa mất thôi, hãy nhớ lời ba nói. Với súng ống thế kia, thể nào cũng có người bị giết trong vùng đồng hoang mà chưa chắc đã là cậu bé người sói.”
Benjamin bất giác nghĩ đến Naren, bạn của Charlie. Cô bé sống với cha mẹ nuôi trong căn nhà nhỏ sâu trong vùng đồng hoang. Nơi đó là một bí mật, thơ mộng, là nơi bảo tồn, nương náu của thú bị lạc và bị thương. Liệu nó còn là bí mật khi cả toán người vũ trang súng, dùi cui và đuốc hùng hổ, dẫm đạp cây cối xông đến?
Ước gì mình có thể bàn tính với Charlie, Benjamin nghĩ.
Charlie ngủ thiếp đi. Nó choàng tỉnh thì thấy ai đó đang lay vai mình.
“Charlie, có cái gì ở trên tường đằng sau anh. Chữ.” Đó là giọng của Dagbert.
Charlie ngồi dậy, dụi mắt.
“Nhìn kìa! Đằng sau anh,” Dagbert thúc giục.
Charlie nhìn quanh. Bức tường phía trên giường nó hiện ra chữ “Tạm biệt”. Lọt trong một mảng ánh trăng, những mẫu tự run rẩy, lọng cọng như không chắc mình đã xếp đúng chưa.
“Naren!” Charlie nói, quên cả thì thầm. “Em đi đâu?”
Không có thông điệp trả lời. Bức tường vẫn trống không. Mảng ánh trăng biến mất và căn phòng trở lại bóng tối mịt mùng như thường lệ.
“Cái gì vậy?” Dagbert hỏi.


Truyện đánh dấu

Nhấn để xem...

Truyện đang đọc

Nhấn để xem...
Nhấn Mở Bình Luận